Tép - Caridina flavilineata
Thông tin chi tiết:
Hình Thái: Rất nhỏ, con trưởng thành thường chỉ dài khoảng 20-30 mm. Hình dạng: Thân mảnh, hơi dẹt bên. Điểm đặc trưng nhất là không có gai má và góc dưới ổ mắt tròn. Màu sắc: Thân thường trong suốt, có các sắc tố màu nâu nhạt hoặc xám. Tên loài "flavilineata" (dòng kẻ vàng) ám chỉ các sọc đặc trưng chạy dọc cơ thể, giúp chúng ngụy trang tốt trong môi trường rong rêu. Càng: Cặp chân ngực thứ nhất và thứ hai có dạng kìm nhỏ, đầu kìm có các túm lông mịn dùng để quét và lọc thức ăn
Sinh thái: Phổ biến ở các vực nước ngọt tĩnh hoặc chảy chậm như ao, hồ, mương vườn, ruộng lúa và các dòng suối nhỏ. Chúng có tập tính bám vào rễ cây, rong đuôi chó hoặc rêu thủy sinh. Là loài ăn tạp và ăn mùn bã. Chúng sử dụng các túm lông ở càng để thu gom tảo bám, vi sinh vật và các mảnh vụn hữu cơ lơ lửng trong nước. Tuổi thọ ngắn, trung bình khoảng 200-210 ngày. Một con cái trưởng thành có thể sinh sản khoảng 3 lần trong vòng đời, mỗi lần mang một lượng trứng nhỏ (trứng có kích thước khoảng 1,1 x 0,75 mm).
Trạng thái bảo tồn:
Sách đỏ VN:
IUCN:
ND84:
Tại cúc phương:
| Kinh độ/ VN2000 | Vĩ độ/ VN2000 |
|---|
Phân bố trong nước: Phổ biến khắp các tỉnh thành
Phân bố ngoài nước: Trung Quốc, khu vực Đông nam Á
Giá trị: Là nguyên liệu chính cho các món ăn dân dã của người Việt như tép rang khế, mắm tép, hoặc làm mồi câu cá. Đóng vai trò là mắt xích quan trọng trong chuỗi thức ăn, giúp làm sạch môi trường nước bằng cách tiêu thụ mùn bã hữu cơ.
| Ảnh | Bộ mẫu | Số hiệu | Ngày lấy | Người lấy | Độ cao | Ghi chú |
|---|
Nguồn: Đặng Ngọc Thanh (1975): "Phân loại các loài tôm, cua nước ngọt miền Bắc Việt Nam", Tạp chí Sinh vật - Địa học, 13(3): 65-78.
